Trung tâm Thông tin tư liệu đất Việt Nam, 25 năm xây dựng và phát triển

Trung tâm Thông tin tư liệu đất Việt Nam bắt đầu được xây dựng năm 1995 theo tiêu chuẩn của Trung tâm Thông tin tư liệu đất Thế giới (ISRIC) và chính thức được đưa vào sử dụng từ năm 2000.



Đây là nơi trưng bày mẫu đất hiện đại ở khu vực Đông Nam châu Á, 68 mẫu tiêu bản đất nguyên khối đại diện cho các loại đất chính của Việt Nam đã được thu thập và trưng bầy về: Hình thái phẫu diện, bản mô tả phẫu diện, các kết quả phân tích về các tính chất lý, hóa học cơ bản, các mẫu đá mẹ đặc trưng...



Ngoài ra,tại đây còn lưu giữ các loại bản đồ chuyên đề như: Bản đồ đất, bản đồ địa chất, bản đồ khí hậu... của các vùng sinh thái và toàn quốc. Đây là nơi lưu giữ, trao đổi thông tin có chất lượng đất trên toàn quốc không những phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, mà còn làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời góp phần vào công tác đào tạo, trao đổi thông tin trong lĩnh vực khoa học đất ở Việt Nam và trên thế giới.



Từ khóa: Trung tâm Thông tin tư liệu đất Việt Nam, tiêu bản đất nguyên khối.

Các bài viết và công trính nghiên cứu về phát sinh học và phân loại đất, bảo vệ và sử dụng đất

-Chuyển đổi danh pháp các loại đất chính Việt Nam (theo Chú dẫn bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000) theo FAO-UNESCO và Soil Taxonomy (Đỗ Đình Thuận, Hồ Quang Đức. 1989).
-Xác định tên một số loại đất Việt Nam theo FAO-UNESCO và Soil Taxonomy (Seghal, Tôn Thất Chiểu và ctv. 1989).
-Chú giải bản đồ và Bản đồ đất ĐBSCL (Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Nguyễn Văn Nhân và những người khác. 1991).


-Kết quả bước đầu về ứng dụng PLĐ theo FAO-UNESCO  (Tôn Thất Chiểu. Khoa học đất số 2, 1992).
-Bước đầu nghiên cứu mối tương quan giữa danh pháp các đơn vị phân loại đất VN theo hệ thống phân loại đất của Mỹ Soil Taxonomy (Hồ Quang Đức. Kết quả nghiên cứu khoa học-Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2, tr69-77. 1996).
Tóm tắt:
          Việc nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại của Mỹ-Soil Taxonomy để xác định danh pháp các đơn vị phân loại đất của Việt Nam là rất cần thiết, phù hợp với tình hình phát triển thổ nhưỡng học trên thế giới.
          Các loại đất chính của nước ta ứng với các Bộ của Soil Taxonomy là: Entisols, Inceptisols (vùng đồng bằng), Oxisols, Ultisols (trung du và miền núi).
          Bảng dự kiến chuyển đổi danh pháp các đơn vị phân loại đất của Việt Nam theo Soil Taxonomy mới chỉ dừng ở mức định tính-bán định lượng, chưa đạt độ chính xác cao.
          Để xác định chính xác tên các loại đất Việt Nam và các cấp phân vị thấp hơn theo Soil Taxonomy cần phải có những chỉ tiêu định lượng cụ thể.

-Dự kiến chuyển đổi phân loại đất Hà Nội theo phương pháp FAO-UNESCO do Lê Thái Bạt chủ trì, 1994.
-Báo cáo kèm theo bản đồ đất tỷ lệ 1/10.000 vùng Nam Bắc Đuống do Nguyễn Công Pho chủ trì, 1994.
-Nghiên cứu chuyển đổi danh pháp các đơn vị phân loại đất Việt Nam theo hệ thống PLĐ của đất FAO-UNESCO (Hồ Quang Đức, Đỗ Đình Thuận. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông Nghiệp năm 1993, tr. 141, Bộ Nông Nghiệp và CNTP, Hà Nội. 1994).
-Phân loại đất phèn ĐBSCL theo hệ chú dẫn bản đồ đất Thế giới của FAO-UNESCO (Võ Tòng Xuân, Lê Quang Trí, Võ Tòng Anh, Trần Kim Tính, Nguyễn Bảo Vệ. Tạp chí khoa học đất số 4, 1994).
-Ứng dụng hệ phân loại đất của FAO-UNESCO trong điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ vừa và lớn (Lê Thái Bạt. Viện Quy hoach và TKNN, 1995).
-Nâng cấp bản đồ đất xám ĐBSCL tỷ lệ 1/100.000 theo hệ chú dẫn bản đồ đất Thế giới của FAO-UNESCO (Võ Tòng Xuân, Lê Quang Trí, Võ Tòng Anh, Trần Kim Tính, Nguyễn Bảo Vệ. Tạp chí khoa học đất số 5, 1995).
-Xác định đặc điểm đất bạc màu theo phương pháp định lượng của FAO-UNESCO vùng Đông Anh - Hà Nội (Nguyễn Nhật Tân, Hoàng Văn Mùa. Tạp chí khoa học đất số 5, 1995).
-Dự kiến chuyển đổi phân loại đất tỉnh Đăk Lăk theo phương pháp định lượng của FAO-UNESCO (Nguyễn Khang, Phạm Dương Ứng và ctv. Viện Quy hoạch và TKNN, 1995).
-Phân loại đất tỉnh Tuyên Quang (Nguyễn Khang, Đào Châu Thu và ctv. Viện Quy hoạch và TKNN, 1995).
-Đất Việt Nam (Bản chú giải kèm theo Bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000) của Hội Khoa học đất Việt Nam do Tôn Thất Chiểu, Đỗ Đình Thuận chủ biên, 1996.
-Bước đầu nghiên cứu mối tương quan giữa danh pháp các đơn vị phân loại đất Việt Nam theo hệ phân loại đất của Mỹ-Soil Taxonomy (Hồ Quang Đức. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa. Quyển 2. tr69, 1996).
-Báo cáo tổng kết giai đoạn 1 Dự án “Điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng đất để lập bộ sưu tập mẫu tiêu bản, cơ sở dữ liệu và thông tin về đất Việt Nam” do Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện, 1997.
-Điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai theo phương pháp của FAO và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn một tỉnh (lấy tỉnh Đồng Nai làm ví dụ) do Vũ Cao Thái, Pham Quang Khánh và Nguyễn Văn Khiêm chủ biên (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) thực hiện, 1996.
Tóm tắt:
          Đồng Nai là tỉnh đầu tiên trong cả nước áp dụng phương pháp của FAO-UNESCO để điều tra, đánh giá tài nguyên đất. Trên cơ sở điều tra, khảo sát, phân tích đầy đủ theo phương pháp của FAO-UNESCO về các đặc tính lý hóa học, cho thấy việc ứng dụng hệ phân loại của FAO ở Việt Nam có khả năng thực hiện tốt. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, ở Đồng Nai có quỹ đất đai phong phú và đa dạng với 10 nhóm đất chính, 24 đơn vị đất, 64 đơn vị đất phụ với chất lượng đất rất tốt.
-Điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai theo phương pháp của FAO cho một huyện miền núi (lấy huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ làm ví dụ) do Nguyễn Văn Bộ, Hồ Quang Đức, Lữ Quý chủ trì, 1998.
Tóm tắt:
          Những năm gần đây việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp điều tra phân loại và đánh giá đất đai theo FAO-UNESCO đang được áp dụng rộng rãi trong nước và đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp của FAO cho một huyện (lấy huyện Đoan Hùng làm ví dụ) là một trong những công trình quan trong.
          Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đất đai huyện Đoan Hùng được chia thành 6 nhóm đất chính, 13 đơn vị đất, 52 đơn vị đất phụ và thấp hơn; có 67 đơn vị đất đai, 47 kiểu thích nghi đất đai.
-Phân loại đất và bản đồ đất tỉnh Yên Bái theo phương pháp của FAO-UNESCO (có chú giải kèm theo) do Nguyễn Văn Lịch chủ biên, Sở Địa chính Yên Bái thực hiện năm 1998.
-Nghiên cứu phân loại đất vùng Duyên hải miền Trung (thực hiện mô hình toàn tỉnh Bình Định) phương pháp của FAO-UNESCO do Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt chủ trì. Hội Khoa học đất VN thực hiện. 1998).
-Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện Dự án “Chương trình PLĐ VN theo phương pháp quốc tế FAO-UNESCO” do Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt chủ biên, Hội Khoa học đất VN thực hiện (1995-1998).
-Phân loại đất xã Hương Gián, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Ninh theo phương pháp của FAO-UNESCO do Hồ Quang Đức chủ biên, Phòng Nghiên cứu Phát sinh học và Phân loại đất-Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện. 1998.
Tóm tắt:
          Hệ thống phân loại của FAO với 3 cấp phân vị: Nhóm đất chính, đơn vị đất, đơn vị đất phụ; thực chất là hệ chú dẫn bản đồ đất thế giới tỷ lệ 1/5.000.000. Đối với bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn cần có sự bổ sung cấp phân vị chi tiết hơn nhằm tách các đơn vị thể hiện trên bản đồ đất phù hợp với tỷ lệ của bản đồ. Kết quả nghiên cứu tại xã Hương Gián, huyện Yên Dũng chỉ ra rằng: xã có 5 nhóm đất chính, 7 đơn vị đất, 16 đơn vị đất phụ và thấp hơn.
-Báo cáo đất tỉnh Đak Lak có liện hệ với hệ thông phân loại quốc tế WRB, 1998 của Berding và các báo cáo khác tại hội thảo quốc tế về đánh giá đất đai cho quy hoạch sử dụng đất đai và phát triển nông nghiệp bền vững tại miền Nam VN do Viện Quy hoạch và TKNN kết hợp với trường Đại Học Thiên Chúa giáo Leuven (Dự án NIAPP/KUL) Đak Lak,1998.
-Các báo cáo khoa học hàng năm đề tài cấp ngành “Nghiên cứu ứng dụng hệ PLĐ của FAO-UNESCO và của Soil Taxonomy để xác định danh pháp các đơn vị PLĐ VN” của Phòng NC PSH và PLĐ (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1991-1998).
-Những kết quả nghiên cứu về phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề về đất phục vụ sản xuất nông-lâm nghiệp (Nguyễn Văn Tý, Đỗ Đình Thuận. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3, tr40. 1999).
Tóm tắt:
          Nghiên cứu phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề về đất là nghiên cứu cơ bản có sự liên quan chặt chẽ với nghiên cứu phát sinh học đất, nghiên cứu điều tra phân loại đất. Đây là công tác nghiên cứu khoa học phức tạp đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và có liên quan với nhiều ngành khoa học khác như: địa chất, khí tượng, thuỷ văn, địa lý tự nhiên...
          Các bản đồ chuyên đề về đất được xây dựng trong thời gian qua đã cung cấp lượng thông tin tư liệu lớn về tài nguyên và tiềm năng đất đai, đồng thời phản ánh được tính đa dạng, phức tạp của đất đai vùng nhiệt đới ẩm Việt Nam.
          Những kết quả nghiên cứu nói chung và về phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề về đất nói riêng, đã làm cơ sở khoa học cho viêc quy hoạch mang tính chiến lược phát triển nông nghiệp trong phạm vi cả nước, ở từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là cơ sở khoa học giúp cho các cấp xây dựng quy họach, kế hoạch sử dụng đất đai hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông-lâm nghiệp, các biện pháp bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu thực tế đất đảm bảo cho sự phát triển sản xuất nông-lâm nghiệp bền vững.
-Đánh giá đặc điểm đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái (Hồ Quang Đức, Trần Minh Tiến, Bùi Tân Yên, Nguyễn Văn Ga. Tạp chí khoa học đất số 21. tr78. 2005).
Tóm tắt:
          Văn Chấn là một huyện miền núi có nhiều tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp. Xây dựng bản đồ đất và đánh giá đất đai là cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huỵện.
          Đã điều tra, khảo sát 600 phẫu diện đất; phân tích 5.334 chỉ tiêu mẫu mặt về các đặc tính lý, hóa học đất; xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1/25.000. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất nông nghiệp của huyện chia thành 7 nhóm đất chính, 14 đơn vị đất, 24 đơn vị đất phụ, 30 đơn vị dưới đơn vị đất phụ. Gồm 48 đơn vị đơn vị đất, 26 kiểu thích nghi.
-Một số đặc điểm khoáng sét ở đất đỏ phát triển trên đá vôi miền Bắc Việt Nam (Hồ Quang Đức, Trương Xuân Cường, Nguyễn Thị Hương Giang, Nguyễn Văn Đạo. Tạp chí khoa học đất số 20. 2004).
Tóm tắt:
          Nghiên cứu đặc điểm, thành phần khoáng sét của đất đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển và hình thành của các loại đất. Đến nay có rất ít các nghiên cứu về khoáng sét của các loại đất ở Việt Nam, đặc biệt là khoáng sét của đất phát triển trên đá vôi.
          Nghiên cứu này được tiến hành với 6 phẫu diện đất đặc trưng cho đất phát triển trên đá vôi ở miền Bắc Việt Nam. Khoáng sét được xác định bằng tia X, mẫu đất được phơi khô không khí và được sử lý: bão hoà Mg; bão hoà K; bão hoà Mg làm no bằng glyxerin; bão hoà K nung ở 330oC; bão hoà K nung ở 600oC. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Kaolinit là loại khoáng chủ yếu trong đất đỏ phát triển trên đá vôi với trên 80%.
-Nghiên cứu ứng dụng hệ phân loại đất của FAO-UNESCO để xác định tên đất nâu đỏ phát triển trên bazan Phủ Quỳ-Nghệ An (Hồ Quang Đức, Kết quả nghiên cứu khoa học. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghệp Việt Nam, quyển 3. tr187. 1998).
Tóm tắt:
          Đất nâu đỏ phát triển trên bazan là loại đất quan trọng của Việt Nam, đất có độ phì nhiêu khá cao phù hợp với nhiều loại cây trồng. Cho đến nay việc nghiên cứu áp dụng hệ phân loại của FAO cho loại đất này còn ít được đề cập. Nghiên cứu này đã giải quyết vấn đề trên và đã chỉ ra rằng loại đất này ứng với Hyperdystri-Rhodic Ferralsols của FAO.
-Về vấn đề phát triển cà phê trong khu vực nhân dân ở nước ta (Đoàn Triệu Nhạn (Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 294. tr531. 1986).
-Quỹ đất và chiến lược thổ nhưỡng Đông Nam Bộ (TS.Phan Liêu, Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, số 342. tr691. 1990).
-Quá trình nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp chính trong đánh giá đất đai cho sản xuất nông lâm nghiệp bền vững ở Việt Nam (Bùi Tân Yên, Hồ Quang Đức, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr 53. 1999).
Tóm tắt:
          Nhu cầu sử dụng tối ưu đất đai đang được quan tâm, đặc biệt khi tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh, yêu cầu sử dụng đất đai cho đô thị và hạ tầng cơ sở đã làm giảm diện tích đất canh tác bình quân đầu người. Để phát huy tối đa tiềm năng của đất đai, sử dụng chúng có hiệu quả và bền vững, việc đánh giá đất đai ngày càng được coi trọng. Từ cơ sở phân hạng đất của Dokuchaiev, sau đó phương pháp đánh giá đất của FAO đã ra đời và từng bước được áp dụng ở Việt Nam. Cho đến nay có trên 10 tỉnh và huyện đã tiến hành đánh giá tài nguyên đất đai theo phương pháp của FAO.
-Đất mặn và đất phèn ở Việt Nam (Vũ Cao Thái, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr 64. 1999).
Tóm tắt:
          Đất mặn và đất phèn là những loại đất có vấn đề ở Việt Nam, có diện tích lớn và tập chung chủ yếu ở ĐBSCL và ĐBSH. Là những loại đất có nhiều yếu tố hạn chế với năng suất cây trồng.
          Tuỳ thuộc vào mức độ mặn, đất mặn được chia thành: đất mặn sú vẹt, đất mặn nhiều, đất mặn trung bình, đất mặn ít.
          Đất phèn được chia thành các loại: đất phèn tiềm tàng và đất phèn hoạt động.
-Nghiên cứu cơ bản đất phèn ở ĐBSCL (Vũ Cao Thái, Nguyễn Bích Thu. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr 73. 1999).
Tóm tắt:
          Đất phèn vù         ng DBSCL đã được Viện thổ nhưỡng Nông hóa nghiên cứu trong suốt hơn 20 năm với những nghiên cứu cơ bản về phát sinh học, tính chất, phân loại và quy luật địa lý của đất phèn. Những nghiên cứu này góp phần cho việc đánh giá tiềm năng đất ĐBSCL và có ý nghĩa học thuật trong nghiên cứu phát sinh học và phân loại đất phèn.
-Nông lâm kết hợp, một giải pháp sử dụng đất bền vững ở Việt Nam (Lê Duy Thước, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3.
tr 466. 1999).
Tóm tắt:
          Hiện nay tỷ lệ che phủ ở các vùng địa lý thổ nhưỡng của Việt Nam rất thấp, trung bình khoảng 20%; vùng Tây Bắc khoảng 7-8%. Trên cả nước có khoảng 13 triệu đất trống đồi núi trọc và trên 26 triệu đất đồi núi đang bị rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng.
          Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội hiện nay để quản lý nước, dinh dưỡng cho cây trồng trên đất dốc ở miền Bắc Việt Nam thì nông lâm kết hợp là giải pháp thích hợp nhất.
          Yếu tố thành công của phương thức nông lâm kết hợp là vừa cho hiệu quả kinh tế xã hội môi trường vừa nâng cao độ che phủ thực vật của lớp đất mặt.
-Từ kết quả nghiên cứu đến xây dựng mô hình canh tác sử dụng đất dốc trên đất nông hộ (Thái Phiên, Lương Đức Loan. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr470. 1996).
Tóm tắt
-Đặc tính, biện pháp sử dụng, xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên đất cát biển ở Việt Nam (Nguyễn Thị Dần, Trần Thúc Sơn. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr 495. 1999).
Tóm tắt:
          Đất cát biển chiếm khoảng 1,45 tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam, là loại đất nghèo dinh dưỡng, cơ giới nhẹ, nghèo hữu cơ và các chất dinh dưỡng tổng số, dễ tiêu; CEC thấp.
          Tuy nhiên, nhờ có mạch nước ngầm ở nông mà khả năng cung cấp nước cho cây trồng khá, bởi vậy nếu biết bố trí cây trồng hợp lý thì có thể có hiệu quả kinh tế cao.
          Trên đất cát điển hình có thời kỳ ngập nước ở Diễn Châu, Nghệ An cơ cấu: lúa xuân-lúa hè thu-ngô thu đông với mức đầu tư: 20t phân chuồng, 380kgN,195kgP2O5, 210kgK2O có thể cho năng xuất 5-17tấn lương thực/năm.
Cơ cấu: lúa xuân-lúa hè thu-rau vừa có khả năng cân đối lương thực vừa cho hiệu quả kinh tế cao.
          Trên đất cát điển hình khô không có thời gian ngập nước ở Diễn Châu, cơ cấu: lạc xuân-vừng-ngô hoặc, lạc xuân-vừng-rau vừa làm tăng hàng hóa vừa tăng nguồn lương thực tại chỗ cải thiện mức sống nông dân.
          Cơ cấu lúa xuân-lúa hè thu-ngô thu đông trên đất cát biển ngập nước định kỳ ở Diễn Châu với mức bón: 120kgN, 60kgP2O5, 60kgK2O cho lúa xuân; 80kgN, 45kgP2O5, 90kgK2O cho lúa hè thu; 180kgN, 90kgP2O5, 90kgK2O cho ngô thu đông là cơ cấu cho năng xuất cao và hiệu quả kinh tế lớn.

-Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đến diễn biến độ phì nhiêu của đất dốc (Trần Đức Toàn, Thái Phiên. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr 178. 1999).
Tóm tắt:
          Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,1 triệu ha với 21% đất nông nghiệp (7,3 triệu ha). Đất dốc chiểm 75% tổng diện tích tự nhiên (25 triệu ha), trong đó chỉ có 4,5 triệu ha có độ dốc dưới 25o có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, còn lại độ dốc trên 25o. Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người 0,46 ha. Để đáp ứng nhu cầu lương thực người dân đã phá rừng làm đất canh tác. Diện tích rừng và độ che phủ nhanh chóng bị thu hẹp. Mất rừng gây ra xói mòn, và thoái hóa đất nghiêm trọng, làm cạn nguồn nước, mất nguồn thủy sinh, gây lũ lụt và hạn hán.
          Áp dụng các phương thức canh tác có các biện pháp chống xói mòn không những bảo vệ được đất, duy trì hàm lượng dinh dưỡng trong đất mà còn tăng năng suất cây trồng.
          Trồng cây họ Đậu làm băng chống xói mòn là phương thức có hiệu quả cao.

-Ứng dụng phân loại đất FAO-UNESCO trong vùng nhiệt đất đới ẩm điển hình (PGS.PTS Vũ cao Thái, PTS. Phạm Quang Khánh, Tống Hoài Lân, Nguyễn Văn Khiêm, Nguyễn Xuân Nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr 8. 1995).
-Tác động của kỹ thuật sinh học tới bảo vệ đất dốc (PGS.PTS. Thái Phiên, PGS.PT. Nguyễn Tử Siêm. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr 29. 1995).
Tóm tắt:
          Biện pháp kỹ thuật sinh học có thể hạn chế dòng chảy bề mặt khoảng 20-25% so với đối chứng. Lượng dòng chảy khác nhau tùy theo tính chất đất, độ dốc, độ che phủ của cây trồng, biện pháp canh tác.
          Lượng xói mòn trên đất có thành phần cơ giới nặng thường gấp 3-4 lần so với đất có thành phần cơ giới nhẹ cùng độ dốc, cùng lượng mưa, cường độ mưa và biện pháp canh tác tương tự. Biện pháp kỹ thuật sinh học, trồng cây theo băng có tác dụng giảm lượng xói mòn 50-90% so với đối chứng.
          Hàng năm, lượng dinh dưỡng trả lại cho đất từ băng cây và phụ phẩm cây trồng khoảng 200-300kgN, 15-20kgP2O5, 40-60kgK2O.
          Mặc dù khi áp dụng biện pháp kỹ thuật sinh học diện tích cây trồng giảm khoảng15%, năng suất cây trồng vẫn tăng hoặc giữ được mức năng suất như cây trồng thuần. Biện pháp này nhằm góp phần cải thiện độ phì nhiêu của đất tạo nền cho đất sản suất nông nghiệp bền vững trên đất dốc.
-Mối quan hệ giữa trầm tích Đệ tứ và phát sinh học đất phèn tỉnh Minh Hải (Trung tân nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật đất phân. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr 21. 1995).
Tóm tắt:
          Đặc điểm của trầm tích trẻ Đệ tứ được nhiều nhà nghiên cứu thổ nhưỡng, nhất là những nhà nghiên cứu về phát sinh học và phân loại đất quan tâm. Những kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:
+Giữa trầm tích Đệ tứ và loại hình thổ nhưỡng ở Minh Hải và ĐBSCL có mối quan hệ chặt chẽ.
+Tầng sinh phèn trong phẫu diện đất luôn gắn bó với dạng trầm tích đầm lầy biển, hay trầm tích đầm lầy biển là nguồn gốc của tầng sinh phèn trong phẫu diện đất phèn.
-Đậu mèo Thái Lan-cây phân xanh cải tạo đất dốc thoái hóa ở Việt Nam (PGS.PTS. Nguyễn Tử Siêm, PGS.PTS. Thái Phiên, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr 47. 1995).
Tóm tắt:
          Đậu mèo Thái Lan được nhập khẩu từ miền Bắc Thái Lan năm 1992 và được trồng ở nhiều vùng của Việt Nam. Với các đặc tính như: tốc độ sinh trưởng cao và khả năng tái sinh mạnh, giàu dinh dưỡng, năng suất thân lá và hạt cao,... chúng được sử dụng để cải tạo và bảo vệ đất, tăng cường tuần hoàn hữu cơ trên đất đồi; hạt và lá được sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi.
-Một số biện pháp canh tác nhằm hạn chế xói mòn, bảo vệ và ổn định độ phì nhiêu đất trồng cà phê thời kỳ xây dựng cơ bản ở Tây Nguyên (KS. Hồ Công Trực, KS. Lương Đức Loan. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr 89. 1996).
Tóm tắt:
          Các biện pháp canh tác bảo vệ đất đều có tác dụng giảm lượng nước trôi và lượng đất mất, chỉ còn 30-37% so với không có biện pháp bảo vệ.
          Các biện pháp sinh học như băng muồng hoa vàng lẫn cốt khí, xen đậu hồng, xen ngô lạc giữa hai hàng cà phê, vừa có tác dụng hạn chế xói mòn vừa trả lại cho đất một lượng tàn dư hữu cơ lớn.
          Biện pháp xen ngô lạc còn tạo ra một khối lượng nông sản có giá trị, có khả năng trang trải 40-50% kinh phí đầu tư trong 3 năm đầu của thời kỳ xây dựng cơ bản. Song, biện pháp này nếu canh tác liên tục còn có hạn chế là gây ra tình trạng tranh chấp ánh sáng, tranh chấp dinh dưỡng, cây cà phê bị sâu bệnh, chết nhiều.
-Biện pháp sinh học bảo vệ và cải thiện độ phì nhiêu đất dốc (PGS.PTS. Nguyễn Tử Siêm, PGS.PTS. Thái Phiên, ThS. Trần Đức Toàn. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr 100. 1996).
Tóm tắt:
          Thí nghiệm này được tiến hành trên đất phù sa cổ Ba Vì; đất phát triển trên đá bazan Đak Lak và đất phát triển trên thạch sét Lương Sơn, Hòa Bình.
          Các biện pháp chống xói mòn như tạo băng cây xanh theo đường đồng mức, mương bờ, tạo bồn, trồng cây phủ đất... đều cho kết quả tốt, giảm lượng đất bị xói mòn 50% so với đối chứng.
          Lượng dòng chảy tuỳ thuộc tính chất đất: trên phù sa cổ lượng dòng chảy chiếm 20-30% lượng mưa; trên đất bazan 10-15%; trên đất thạch sét 5-13%.
          Việc trả lại hữu cơ cho đất trên đồi là biện pháp tốt nhất để từng bước phục hồi, giữ gìn và cải thiện độ phì nhiêu đất, nâng cao năng suất cây trồng. Vùi tàn dư hữu cơ của các loại cây trồng và lá cây phân xanh của băng chống xói mòn có thể bổ sung vào đất lượng dinh dưỡng hàng năm là 100-120kgN,10-30kgP2O5 và 50-100kgK2O.
-Vai trò của K trong cân đối dinh dưỡng với cây lương thực trên đất có hàm lượng K tổng số khác nhau (PTS.Nguyễn Văn Bộ, Phạm Văn Ba, Bùi Thị Trâm. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr58. 1995).
-Quan hệ giữa trạng thái oxy hóa khử và chuyển hóa lân trong đất phù sa hỗn hợp sông biển (Võ Đình Quang, PGS.PTS. Vũ Cao Thái, Trần Thị Tường Linh, Bùi Thị Hồng Thanh, Lương Thu Trà. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr69. 1995).
-Sử dụng hợp lý sản phẩm phụ nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng và ổn định độ phì nhiêu của đất bạc màu (Đỗ Thị Sô, Nguyễn Văn Đại, Phạm Văn Thao, Vi Văn Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 1. tr98. 1995).
-Xói mòn đất trong mối quan hệ với các thẻm cây trồng khác nhau (PGS.PTS. Thái Phiên, KS. Nguyễn Huệ. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr38. 1996).
-Kali và Canxi trong hệ thống dinh dưỡng của cây hồ tiêu trên đất nâu đỏ bazan (KS. Nguyễn Thị Thuý, KS. Lương Đức Loan. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr48. 1996).
-Chế độ bón thích hợp cho cây đậu đỗ trên đất bạc màu Hà Bắc (PGS.PTS. Nguyễn Thị Dần. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr77. 1996).
-Nghiên cứu độc sắt cây lúa nước ruộng dưới chân đồi vùng trung du Đồng Bằng sông Hồng (KS.Phạm Quang Hà, PGS.PTS.Thái Phiên, J.Dufey, P.Hennebert. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr153. 1996).
-Khả năng thâm canh lúa trên các vùng sinh thái ở đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ (PTS.Phạm Tiến Hoàng, PTS. Trần Thúc Sơn, ThS.Phạm Quang Hà. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr180. 1996).
-Nghiên cứu độ phì nhiêu đất trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở nước ta (Nguyễn Vy. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr93. 1999).
-Tuần hoàn chất hữu cơ - những đóng góp cho nền nông nghiệp sinh thái hài hoà ở Việt Nam (Nguyễn Tử  Siêm, Vũ Kim Thoa. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr121. 1999).
-Vi sinh vật đất trong mối quan hệ với độ phì nhiêu đất (Nguyễn Văn Sức. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 2. tr190. 1996).
-Tính chất vật lý nước trong mối quan hệ với sử dụng đất đai của một số loại đất chính ở Việt Nam (Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên. Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, quyển 3. tr204. 1999).

 Các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng và trao đổi về các công trình nghiên cứu và thông tin liên quan vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ môn ( solgen.sfri@gmail.com)




Nhóm phát triển bảo tàng đất trực tuyến

Bảo tàng đất Việt Nam trực tuyến được các nghiên cứu viên Viện Thổ nhưỡng Nông hóa cùng nhóm cộng tác viên xây dựng và bảo trì. Bảo tàng được xây dựng trên cấu trúc CMS (Content Management System) cho phép đăng tải thông tin nhanh chóng, linh hoạt và tiện dụng. Toàn bộ mã nguồn được viết bằng Javascript và  bộ lệnh JQuery (mã nguồn mở). Module hiển thị bản đồ được phát triển trên nền tảng Google Map API không những cho phép hiển thị bản đồ nhanh chóng trên mọi trình duyệt mà còn cho phép hiển thị cả trên các thiết bị cầm tay cá nhân (mobile phone, PDA, máy tính bảng).

Danh sách các thành viên của nhóm xây dựng bảo tàng trực tuyến được liệt kê dưới đây:

1. Trưởng nhóm phát triển: Trần Minh Thu (tranthu_vnn@yahoo.com.vn)
2. Quản trị hệ thống: Nguyễn Dân Trí (ndtri.gis@gmail.com)
3. Phụ trách bảo tàng: Lê Anh Tuấn
4. Thiết kế và đồ hoạ: Đỗ Minh Phương và nhóm PowerGIS (dphuong@gmail.com)
Cùng sự giúp đỡ, cố vấn kỹ thuật của một số cán bộ đã và đang làm việc tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa.



Giới thiệu bảo tàng đất Việt Nam

Đất là tài nguyên quan trọng, là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thiếu được trong sự tồn tại của loài người. Nguồn tài nguyên này đang được khai thác tối đa để phục vụ cho cuộc sống của hàng tỷ dân trên trái đất. Trong điều kiện của nước ta, dân số đông mà diện tích đất đặc biệt là đất canh tác rất có hạn, thì việc tìm hiểu rõ về thực chất và sự biến đổi của tài nguyên đất trong quá trình khai thác, sử dụng càng cần phải lưu ý sao cho sử dụng đất hợp lý, bảo vệ đất và môi trường cho sản xuất lâu dài.


Trong những năm qua, các nhà khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ canh tác phát triển nông nghiệp trên các vùng đất của tổ quốc. Một trong những hoạt động có kết quả là đã xây dựng được Trung tâm Thông tin Tư liệu Đất Việt Nam tại Viện ở Hà Nội. Đây là một thành công đáng kể của các nhà khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, xuất phát từ ý tưởng xây dựng Trung tâm vào những năm 80, đã thực hiện được trong thời gian gần đây.

Trung tâm Thông tin Tư liệu Đất Việt Nam là nơi lưu giữ, trao đổi thông tin chất lượng đất trên toàn quốc không những phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, mà còn làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, góp phần vào công tác đào tạo, phát triển khoa học trong lĩnh vực thông tin tư liệu về đất.

Trong các năm 1983 và 1989, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã cử cán bộ dự các lớp tập huấn tại Trung tâm Thông tin và Tư liệu đất Quốc tế (ISRIC) tại Hà Lan về công nghệ mới trong việc thu thập, xử lý, bảo quản, trưng bày và lưu giữ các tiêu bản đất nguyên khối (Soil Monoliths). Bộ sưu tập tiêu bản đất này được áp dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay của quốc tế.

Trong 9 năm qua (từ 1992 đến 2000) được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan; Với tinh thần trách nhiệm cao, đầy nhiệt tình của cán bộ Khoa học  Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam đã được hoàn thiện   từng bước, từng giai đoạn.

 Đến nay, Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam đã trưng bày 63 tiêu bản đất của 13 nhóm với 31 loại đất chính theo bảng phân loại đất Việt Nam năm 1976 (hệ thống chú dẫn Bản đồ đất  Việt Nam, tỷ lệ 1:1.000.000). Các tiêu bản đất được xử lý, dán, gia công và trưng bày theo tiêu chuẩn Quốc tế, có độ bền cao phù hợp với điều kiện khí hậu  nóng và ẩm của Việt Nam.
 
Hệ thống thông tin tư liệu gồm có:
+ Các nhãn trưng bày kèm theo tiêu bản đất, ảnh cảnh quan, vị trí phẫu diện đất trên bản đồ, bảng đánh giá đất và đất đai.
+ Thông tin cơ bản của phẫu diện đất: Bản tả phẫu diện đất; những tính chất lý, hoá     học cơ bản; số liệu khí tượng và các tư liệu có liên quan. Các thông tin tư liệu được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh đựng trong hộp thông tin của từng phẫu điện và được lưu giữ trong hệ thống máy vi tính.
+ Hệ thống các bản đồ chuyên đề về đất của toàn quốc, của các vùng sinh thái và các tài liệu thuyết minh kèm theo. Các bản đồ: Khí tượng nông nghiệp, địa chất, hành chính Quốc gia... Các bản đồ được treo trong tủ bảo quản rất tiện lợi.
 + Tủ trưng bày các mẫu đá cơ bản, là mẫu chất hình thành nhóm đất đồi núi.
 + Hệ thống hướng dẫn, chỉ dẫn: Các bảng biểu, sơ đồ, ký hiệu chỉ dẫn...
         
Có thể nói Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam là tài sản vô cùng quí báu, rất đáng trân trọng cần được bảo quản lưu giữ và được thu thập bổ sung đầy đủ các loại đất chi tiết của cả nước nhằm góp phần nhất định cho phát triển khoa học chuyên ngành cũng như sự nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có hiệu quả.

Khả năng khai thác của trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam


Để góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu , chúng tôi đã tổ chức được nhiều buổi trao đổi chuyên môn về phân loại đất, phương pháp phân tích đất theo FAO-UNESCO... với các cán bộ khoa học trong Viện, các Viện nghiên cứu khác, Hội Khoa học đất, các Trường Đại học... cũng như các nhà chuyên môn trong và ngoài ngành.
 
 Đã tổ chức Hội thảo khoa học về chuyên đề phân loại đát Việt Nam theo hệ phân loại đất FAO-UNESCO và thu được kết quả tốt.


Đã tiếp, giới thiệu và trao đối thông tin về đất Việt Nam với trên 40 đoàn khách nước ngoài như: Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Na Uy, Canada, Mỹ, Ôxtrâylia, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Thái Lan, Philippin, CHDCND Triều Tiên ... Cung cấp thông tin cần thiết cho các đoàn xây dựng các chương trình hợp tác với Việt Nam. Đã có hàng trăm lượt sinh viên, cán bộ nghiên cứu của các trường:  Đại học Mỏ địa chất, Đại học Nông lâm Bắc Thái, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Đại học Nông lâm Huế, Đại học Quốc gia Hà Nội... đến tham quan thực tập về hiện vật cũng như khai thác các thông tin tư liệu về đất Việt Nam. Thực tế cho thấy các mẫu đất và thông tin, tư liệu về đất kèm theo đã thực sự trở thành những tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu khao học đất trong và ngoài nước.

Từ khi xây dựng đến nay, Trung tâm Thông tin Tư liệu đất Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong đào tạo, phổ biến kiến thức cho sinh viên, khách tham quan trong và ngoài nước cũng như công tác nghiên cứu của các nhà thổ nhưỡng trong nước và quốc tế.

Hàng năm Trung tâm đã đón nhiều đoàn khách trong nước và Quốc tế tới thăm quan và học tập, đặc biệt Trung tâm đang dần trở thành một địa chỉ quen thuộc của các sinh viên và giảng viên chuyên ngành. Sinh viên đến thăm Trung tâm không chỉ để nghe một bài được thuyết minh chuẩn bị sẵn, mà còn đươc trải nghiệm và khám phá bởi những bài học trực quan sinh động, được đối thoại, trao đổi hai chiều với các cán bộ của Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất

Tóm tắt lịch sử xây dựng Bảo tàng đất trên Thế giới



Monolith (tiêu bản nguyên khối) đất được lấy lần đầu tiên ở Nga trong những thập niên cuối của thế kỷ 19. Những phẫu diện đất lấy ở Nga được trưng bày tại triển lãm Columbia ở Chicago (Mỹ) năm 1893-1894. Monolith đất được lấy bằng cách luồn một hộp sắt có cạnh vào bề mặt thẳng đứng của hố phẫu diện, tương tự như các phương pháp của Rispoloshensky (1897) và Kubiởna (1953) được áp dụng tại Mỹ.

Tại Hội nghị Thổ nhưõng Quốc tế lần thứ nhất ở Washington năm 1927, 19 Monolith cỡ lớn lấy từ Latvia đã được trưng bày. Những loại đất này được để trong các hộp gỗ (Kasakin và Krasynk, 1917; Hodgson, 1978 và Polưnov,1929). Năm 1925, Miklaszewski đã đề nghị cùng hợp tác tổ chức trao đổi các Monolith đất và các dữ liệu tầm cỡ quốc tế. Năm 1927, Vilenski đã xuất bản tài liệu "Về việc tổ chức trao đổi các Monolith đất dựa trên việc tuân thủ một số cải tiến kỹ thuật cần thiết trong việc lấy và dán Monolith". Sau đó, Miklaszewski đã viết về việc thu thập Monolith đất của Bảo tàng Nông nghiệp ở Vácsava, Ba Lan, với kết luận: Lấy monolith vào hộp gỗ có chiều dài 100-200 cm là dễ lấy, dễ vận chuyển và dễ trưng bày.

Năm 1929, Polưnov và những người khác thuộc Viện Thổ nhưỡng Dokuchaev đã biên soạn cuốn "Giới thiệu phương pháp thu thập Monolith và mẫu đất cho nghiên cứu trong phòng thí nghiệm".

Ở nửa đầu của thế kỷ này, trong những phương pháp thu thập Monolith đất, tuy chưa đề cập đến kỹ thuật bảo quản, song cũng có một vài thử nghiệm nhằm làm ổn định các vật liệu đất nhờ các chất thấm. Phương pháp dùng dung dịch đường bão hòa đã được sử dụng ở những năm đầu tại Liên Xô cũ (Ponomareva, 1974).

Việc bảo quản các phẫu diện đất được giới thiệu vào năm 1928, khi Schlacht đề cập việc sử dụng giấy bồi dầy được phết chất dính và ép vào thành phẫu diện, khi khô, các hạt đất dính vào giấy bồi. Phương pháp "Klebeplatten Monolith " này, theo Jager và Van der Voort (1966), chỉ thích hợp với các loại đất cát và đất có cơ giới trung bình, một lớp mỏng của phẫu diện đất được thấm chất dính ở đúng vị trí của nó, kết quả là tạo nên một "mẫu lát mỏng" (Lacquer Peel). Kỹ thuật thu thập các Monolith đất vào hộp kim loại hay hộp gỗ vẫn chủ yếu như phương pháp sử dụng lần đầu tiên ở Liên Xô cũ. Trong 2 thập niên cuối, người ta đã sử dụng những máy móc phù hợp, tạo được các mẫu đất hình trụ dài, không bị xáo trộn (Matelski,1949).

Một số hóa chất mới được tạo ra dùng cho việc thấm vật liệu đất (Maarse và Terwindt, 1964; Bouma, 1969), chủ yếu sử dụng các loại chất kết dính được làm từ Nitrocellulose, (Voigt-1936 và Gracanin, Janecovic-1940) và keo Vinylite (Berger và Muckenhirn, 1978). Một số người sử dụng các chất được làm từ keo Polyeste (Maarse và Terwindt, 1964), trong khi đó Hammond (1974) lại thấm các loại đất hữu cơ bằng cách nhúng đất vào chất trùng hợp Polyetylen Glycol có phân tử lượng thấp. Bouma (1966) đưa ra rất nhiều các mẫu vật khác nhau ở cả 2 dạng chưa được làm chắc và đã được làm chắc. Van der Voort (1970) đã biên soạn một thư mục về việc lấy và bảo quản các Monolith đất và các mẫu lát mỏng. Từ năm 1966, Bảo tàng đất Quốc tế đã sử dụng các chất kết dính được làm từ Nitrocellulose và chất Polymethyl Methacrylate để bảo quản các Monolith đất được nêu trong " Quy trình thu thập các loại đất cho Bảo tàng đất Quốc tế " (xuất bản năm 1972, tái bản năm 1974, 1975 và 1977).          
"Bảo tàng Đất Quốc tế" - International Soil Museum (ISM) được hình thành từ năm 1952, nhưng đến Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới (ISSS) lần thứ 7 (1960) và 8 (1964) mới được giới thiệu và công nhận. Năm 1966, Bảo tàng được chính thức thành lập, đặt tại Wageningen - Hà Lan.

Đến tháng 1-1984, do yêu cầu nhiệm vụ, ISM đổi tên thành Trung tâm thông tin tư liệu đất quốc tế (International Soil Reference and Information Centre) viết tắt là ISRIC, hoạt động trong sự hợp tác và tài trợ của UNESCO, FAO và ISSS.

Hiện nay, ISRIC đã lưu giữ và trưng bày trên 800 mẫu tiêu bản nguyên khối với kỹ thuật và cơ sở vật chất hiện đại có đầy đủ thông tin tư liệu đất của trên 60 quốc gia trên Thế giới. Trung tâm thông tin tư liệu đất Quốc tế thực sự là nơi trao đổi, học tập, đào tạo, hội thảo... về đất của Thế giới.

Quá trình xây dựng Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam

 Vào những năm đầu thập kỷ 60, cùng với việc điều tra phân loại xây dựng bản đồ đất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 và bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 sau khi thống nhất đất nước, chúng ta đã thu thập được nhiều Monolith của các loại đất chính. Các tiêu bản nguyên khối này được lưu giữ tự nhiên trong các hộp gỗ có kích thước 100x20x8 cm. Cơ sở dữ liệu thông tin và số liệu phân tích của các loại đất chưa nhiều. Trong chiến tranh, phải di chuyển nhiều lần, điều kiện cơ sở vật chất cũng như phương tiện bảo quản lạc hậu, nên hầu hết số mẫu tiêu bản bị hỏng không còn sử dụng được.

 Đầu những năm 1980, qua hệ thống thông tin và sự giao lưu quốc tế, lĩnh vực thông tin và bảo tàng đất đã có bước phát triển ngày càng hoàn thiện. Nhận thức được sự cần thiết phải có một bảo tàng đất quốc gia, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đ• cử các cán bộ đi học tập phương pháp thu thập tư liệu cơ bản, lấy và gia công tiêu bản đất nguyên khối mới theo tiêu chuẩn Quốc tế và phải sau gần 10 năm mới có điều kiện nghiên cứu áp dụng.

 Năm 1992, Bộ môn Phát sinh học đất, nay là Phòng Nghiên cứu Phát sinh học và Phân loại đất (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) đã phối hợp với các chuyên gia về hóa học hợp chất cao phân tử, nghiên cứu chế tạo loại keo có đặc tính và yêu cầu kỹ thuật tương đương với loại keo của ISRIC, phù hợp với điều kiện nhiệt đới ẩm của VN. Kết quả này mở ra triển vọng để triển khai việc xây dựng Bảo tàng đất VN theo tiêu chuẩn Quốc tế. Trong gần 3 năm với kinh phí hạn chế, các cán bộ của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã bước đầu nghiên cứu và ứng dụng thành công loại keo có khả năng gắn kết bền vững, không làm thay đối màu sắc cũng như những đặc tính cơ bản của đất. Điều cơ bản nhất là loại keo này được sản xuất từ hóa chất, vật liệu trong nước, nên tiết kiệm được một phần đáng kể ngoại tệ nếu phải nhập của nước ngoài.

 Từ năm 1995, được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính, Dự án'' Điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng đất để lập bộ sưu tập mẫu tiêu bản, cơ sở dữ liệu và thông tin về đất Việt Nam" được triển khai qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1995 đến 1997, giai đoạn 2 từ 1998 đến 2000. Kết quả thực hiện của dự án tạo tiền đề cho Trung tâm Thông tin Tư liệu Đất VN ra đời.


C¸n bé khoa häc tham gia:                                          Responsible scientists:           
 - PGS. TS. NguyÔn V¨n Bé                                            - Assoc. Prof. Dr. Nguyen Van Bo
 - GS.TS. Bïi §×nh Dinh                                                 - Prof. Dr. Bui Dinh Dinh
 - TS. Hå Quang §øc                                                     - Dr. Ho Quang Duc
 - KS. §Æng Thä Léc                                                      - Agronomist Dang Tho Loc
 - GS.TS. Th¸i Phiªn                                                      -  Prof. Dr. Thai Phien
 - KS. NguyÔn V¨n Tý                                                    - Agronomist Nguyen Van Ty
   (XÕp theo thø tù A,B,C)                                                    (by alphabet order)




Bảo tàng đất Việt Nam và Bộ môn Phát sinh học


Chặng đường phát triển của Bảo tàng đất gắn liền với sự phát triển của Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất. Nhiều thế hệ các nhà khoa học đã từng lặn lội trên khắp vùng miền của cả nước để thực hiện công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu và thu thập các mẫu đất đá, thành lập bản đồ đất Việt Nam và từng bước xây dựng bảo tàng đất như ngày nay.

Khi nhắc đến bảo tàng đất Việt Nam, cần phải nhìn nhận những đóng góp to lớn của tập thể cán bộ thuộc bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất, cùng rất nhiều các nhà khoa học đến từ nhiều bộ môn khác nhau thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa. Có thể nói, lịch sử phát triển của bảo tàng đất chính là một phần lịch sử phát triển và hoạt động của bộ môn.

Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất
Department of Soil Genesis and Classification
Tel: 04.37520209/38362381; Fax: 04.38389924; Email: solgen@hn.vnn.vn



1. Lịch sử hình thành
- Từ 1973 - 1979: Bộ môn Địa lý Thổ nhưỡng
- Từ 1979 - 1998: Bộ môn Phát sinh học đất
- Từ 1998 - 2005: Phòng Nghiên cứu Phát sinh học và Phân loại đất
- Từ 2005: Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất

2. Chức năng và nhiệm vụ

Chức năng: Là đơn vị nghiên cứu khoa học về lĩnh vực phát sinh học, phân loại và xây dựng bản đồ đất.

Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của các loại đất; các quá trình thổ nhưỡng chủ đạo trong điều kiện nhiệt đới ẩm Việt Nam.
+ Nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật về điều tra, phân loại đất, đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Nghiên cứu xây dựng các loại bản đồ về đất.
+ Xây dựng trung tâm thông tin và tư liệu đất Việt Nam.
+ Đào tạo cán bộ chuyên ngành về lĩnh vực phát sinh học, phân loại, lập bản đồ đất và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Hợp tác quốc tế về lĩnh vực phát sinh học, phân loại, lập bản đồ đất và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trang thiết bị, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật.

3. Thành tựu chính
- Tham gia điều tra, biên tập bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 (Giải thưởng Nhà nước năm 1990; Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), bản đồ đất Miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000
- Tham gia Chương trình Atlas Quốc gia xây dựng Bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/2.000.000 (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005)
- Tham gia Chương trình điều tra Tây Nguyên I và II; đánh giá mức độ thích hợp của đất Tây Nguyên cho các cây: cà phê, chè, cao su và dâu tằm
- Điều tra cơ bản và cải tạo đất Đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình thâm canh lúa Đồng bằng sông Cửu Long
- Xây dựng hệ phân loại đất Việt Nam áp dụng cho việc lập bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn
- Xây dựng Trung tâm Thông tin Tư liệu Đất Việt Nam
- NC quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo phương pháp phân tích hệ thống áp dụng cho địa bàn cấp huyện
- Quy hoạch sử dụng đất theo hướng sản xuất nông nghiệp bền vững cho các tỉnh Hà Nam, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Ninh, Hà Giang, Điện Biên
- Đánh giá xây dựng bản đồ đất và phân vùng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho một số huyện, tỉnh của CHDCND Lào
- Xác lập Chỉ dẫn Địa lý cho cây trồng đặc sản: Bưởi Đoan Hùng; Cam Vinh; Vải Lục Ngạn; Quế Văn Yên; Cói Nga Sơn; Xoài Yên Châu; Tiêu Quảng Trị; Sâm Ngọc Linh
- Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về vi hình thái và khoáng sét cho: đất cát biển, đất xám, đất phù sa, đất mặn, đất phèn, đất feralít đỏ vàng
- Nghiên cứu quy trình xây dựng bản đồ sử dụng phân bón đạt hiệu quả cao quy mô cấp huyện

4. Thành tích khen thưởng
- 01 Huân chương Lao động Hạng Ba (2006)
- 01 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2003)
- 04 Bằng khen của Bộ trưởng Nông nghiệp và PTNT (2002, 2003, 2004, 2007)
- 03 Bằng khen của BCH Công đoàn Nông nghiệp và PTNT (2004, 2005, 2009)
- 01 Bằng khen của UBND Tỉnh Yên Bái (2002)
- 01 Bằng khen của UBND Tỉnh Hà Nam (2002)
- 01 Bằng khen của Huyện Nambak, Tỉnh Luang Prabang, CHDCND Lào (2002)
- 01 Giấy khen của Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2008)


Bảo tàng trực tuyến đã đi vào hoạt động

Sau nhiều nỗ lực thực hiện, nhóm chuyên gia phụ trách Bảo tàng đất Việt Nam thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chính thức đưa bảo tàng đất trực tuyến vào hoạt động. Bảo tàng trực tuyến giới thiệu hơn 60 mẫu phẫu diện và trên 50 mẫu khoáng vật từ nhiều vùng khác nhau trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Khách tham quan có thể tham khảo hình ảnh và thông tin về các loại đất chính của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều thông tin khác có liên quan đến tài nguyên đất như phân bón, cây trồng, các kỹ thuật canh tác, phân tích đất, các công trình nghiên cứu khoa học đất cũng được đăng tải nhằm mang đến cho người xem những thông tin hữu ích.

Bảo tàng trực tuyến sẽ là một công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy tại các trường đại học, trung học; nguồn thông tin cho các nghiên cứu viên, các nhà khoa học, đóng góp thông tin vào nhiều công trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nền nông nghiệp Việt Nam.

Tu bổ và nâng cấp bảo tàng

Hoạt động tu bổ và nâng cấp Bảo tàng đất Việt Nam được nhóm chuyên gia của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tiến hành thường kỳ hàng năm. Trong thời gian từ tháng 10-11 năm 2011, Bảo tàng đã được bảo dưỡng và bổ sung thêm thông tin từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong Viện nhằm gìn giữ các tài liệu quý giá về tài nguyên đất Việt Nam, đồng thời cung cấp cho khách tham quan thêm những thông tin mới.

Bên cạnh việc bảo dưỡng các mẫu đất và khoáng vật, nhóm chuyên gia liên tục cập nhật trang web của bảo tàng nhằm giới thiệu với bạn đọc ở xa những thông tin về đất, khoáng vật, các kỹ thuật khoa học đất cơ bản, cây trồng và nhiều công trình nghiên cứu mới trong nước.

Sau quá trình bảo dưỡng và nâng cấp bảo tàng, Bảo tàng đất Việt Nam tiếp tục mở cửa đón khách tham quan từ đầu tháng 12/2011.


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More